Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!
Hello world!
Tháng Năm 30, 2009Kêu gọi hành động thiết thực với những người đã nằm xuống trong ngày 14-3-1988
Tháng Năm 16, 2009
Theo con số chính thức mà Nhà nước ta (thời điểm 1988) đưa ra, trong ngày 14-3-1988, đã có 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân ta hy sinh và bị mất tích. Sau thời điểm này, Trung Quốc đã trao trả cho ta 9 cán bộ-chiến sĩ bị chúng bắt sống làm tù binh. Như vậy, còn tới 65 bộ đội ta đang nằm sâu dưới lòng biển Cô Lin – Gạc Ma.
Đến thời điểm này, chúng ta càng biết rõ hoàn cảnh hy sinh của những chiến sĩ Hải quân Việt Nam trên vùng biển Cô Lin-Gạc Ma trong ngày 14-3-1988 qua những thước phim mới được công bố. Đây là bằng chứng xác thực về dã tâm của Trung Quốc và cũng nói lên ý chí, sự dũng cảm, kiên trung của những người tay không giữ đảo…
Những người bị bắt làm tù binh và được trao trả sau ngày 14-3-1988, hiện đang sống ra sao? Họ nói gì, nghĩ gì và hồi tưởng gì về những khoảnh khắc đâu thương đó?
Những gia đình có con em hy sinh trong ngày 14-3-1998 đã biết về trường hợp hy sinh của con em mình chưa? Qua bao nhiêu năm, nỗi đau có thể nguôi ngoai nhưng những người mẹ, người vợ, người chị của các liệt sĩ ấy đang sống thế nào?..
TÔI ĐỀ NGHỊ TẤT CẢ CÁC THÀNH VIÊN CỦA DIỄN ĐÀN HOÀNG SA VÀ NHỮNG AI ĐÃ, ĐANG QUAN TÂM ĐẾN DIỄN ĐÀN NÀY, ĐẾN SỰ KIỆN ĐAU THƯƠNG NÀY HÃY CÙNG BỎ CHÚT THỜI GIAN ĐỂ QUAN TÂM, TÌM HIỂU ĐẾN NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TRỞ VỀ VÀ NHỮNG GIA ĐÌNH LIỆT SĨ HY SINH Ở CÔ LIN-GẠC MA
Trong danh sách 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân đã hy sinh và mất tích mà Báo Nhân dân đã đăng tải, đã liệt kê cụ thể họ tên, quê quán của các anh, các chú. Tôi đề nghị các bạn đọc danh sách này (liệt kê cụ thể ở dưới) và vận dụng điều kiện, hoàn cảnh để tìm đến họ. Trong diễn đàn này, chắc chắn có bạn ở Quảng Bình, các bạn có thể tìm đến mấy huyện trong tỉnh để tìm gía đình các liệt sĩ (hồi đó là tỉnh Bình Trị Thiên nhưng tên xã, huyện bây giờ vẫn không thay đổi) để thăm hỏi, động viên…
Các bạn ở các dịa phương khác cũng có thể làm như vậy. Sau mỗi chuyến đi thăm, tìm hiểu về gia đình các liệt sĩ, các bạn hãy viết về những gì đã ghi nhận, cảm nhận và đưa lên Diễn đàn của chúng ta. Từ những thông tin này, đề nghị Ban Quản trị Diễn đàn Hoàng Sa kêu gọi các thành viên và những người quan tâm, tổ chức việc quyên góp để giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn và chúng ta hoàn toàn có thể tổ chức những chuyến đi đến thăm hỏi, động viên các Mẹ, các Chị.
Việc \”Đền ơn, đáp nghĩa\” là chủ trương của Chính phủ và mọi hành động, việc làm đều được khuyến khích, không ai dám cấm đoán chúng ta. Đối với những người đã nằm xuống vì Trường Sa, việc này càng nên làm để vong linh của các anh khỏi tức tưởi, để các anh được yên nghỉ dưới lòng biển và để mọi người dân nước Việt không thể quên việc các anh đã nằm xuống ra sao, trong hoàn cảnh nào? Để cái chết của các anh không vô nghĩa, không đi vào quên lãng như suốt 21 năm qua, nhiều người đã muốn quên đi, muốn giấu đi…
Tôi xin cung cấp về trường hợp gia đình liệt sĩ Phan Văn Thiềng) quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên, nay là Quảng Bình): Hiện tại mẹ liệt sĩ Thiềng vẫn đang sống một mình trong căn nhà mái lá ven quốc lộ 1A. Trong căn nhà này, thứ đáng giá nhất là tấm bằng… Tổ quốc ghi công mang tên anh Thiềng. Nhà không có bàn ghế, bếp nguội lạnh và mỗi ngày hàng xóm láng giềng, con gái mẹ ở gần đấy mang bát cơm đến cho mẹ ăn qua ngày… Đầu năm 2008, tôi đã qua thăm nhà mẹ và cũng thay mặt cơ quan tặng mẹ 500.000 đồng để mẹ có tiền sắm Tết. Hiện tại, không rõ hoàn cảnh của mẹ ra sao, rất mong bạn nào đó ở Quảng Bình đến thăm, tìm hiểu và thông báo cho anh em trên Diễn đàn. Đường đến nhà mẹ: Từ Hà Tĩnh chạy vào, qua đèo Ngang một đoạn sẽ thấy trụ sở UBND xã Đôn TRạch nằm bên tay trái, từ trụ sở xã đi khoảng 500 mét, sẽ thấy 1 căn nhà mái lá ọp ẹp nằm cạnh ao rau muống. Đó là nhà mẹ liệt sĩ Thiềng. Nếu không tìm được, cứ hỏi là người dân sẽ chỉ cho ngay…
Rất mong các bạn quan tâm đến đề nghị này!
Danh sách 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh, mất tích trong ngày 14-3-1988 tại vùng biển Cô Linh – Gạc Ma (đăng trên báo Nhân dân 15-3-1988)
1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.
2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.
3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam)
4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).
6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng.
7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.
8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).
9- Nguyễn Tiến Hùng, quê Quảng Xương, Thanh Hóa.
10- Lê Minh Thoa, quê Bình An, Tây Sơn, Nghĩa Bình (nay là tỉnh Bình Định).
11- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
12- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.
13- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
14- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa.
15- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).
16- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình.
17- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.
18- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).
19- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.
20- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
21- Trương Văn Hiền, quê Hương Phong, Hương Khuê, H
à Tĩnh.
22- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
23- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).
24- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
25- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).
26- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
27- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
28- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.
29- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
30- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
31- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.
32- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).
33- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
34- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
35- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
36- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
37- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
38- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
39- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.
40- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
41- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.
42- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.
43- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
44- Mai Văn Tuyến, quê Tây An, Tiền Hải, Thái Bình.
45- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
46- Nguyễn Văn Thông, quê Nhân Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
47- Lê Văn Đông, quê Tây Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
48- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
49- Trần Thiện Phụng, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
50- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
51- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
52- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
53- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.
54- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng)
55- Mai Văn Hải, quê Liêm Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
56- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
57- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
58- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
59- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
60- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
61- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
62- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
63- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
64- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
65- Phạm Văn Nhân, quê Nghĩa Lợi, Nghĩa Hưng, Hà Nam Ninh (Nam Định).
66- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam ĐỊnh).
67- Dương Văn Dũng, quê tổ 53, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
68- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
69- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. BÌnh).
70- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
71- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
72- Lê Văn Xanh, quê tổ 38, Tuyên Sơn, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
73- Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
74- Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).
Các bạn có thể tham gia thảo luận ở diễn đàn Hoàng Sa
Kêu gọi hành động thiết thực với những người đã nằm xuống trong ngày 14-3-1988
Tháng Năm 16, 2009
Theo con số chính thức mà Nhà nước ta (thời điểm 1988) đưa ra, trong ngày 14-3-1988, đã có 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân ta hy sinh và bị mất tích. Sau thời điểm này, Trung Quốc đã trao trả cho ta 9 cán bộ-chiến sĩ bị chúng bắt sống làm tù binh. Như vậy, còn tới 65 bộ đội ta đang nằm sâu dưới lòng biển Cô Lin – Gạc Ma.
Đến thời điểm này, chúng ta càng biết rõ hoàn cảnh hy sinh của những chiến sĩ Hải quân Việt Nam trên vùng biển Cô Lin-Gạc Ma trong ngày 14-3-1988 qua những thước phim mới được công bố. Đây là bằng chứng xác thực về dã tâm của Trung Quốc và cũng nói lên ý chí, sự dũng cảm, kiên trung của những người tay không giữ đảo…
Những người bị bắt làm tù binh và được trao trả sau ngày 14-3-1988, hiện đang sống ra sao? Họ nói gì, nghĩ gì và hồi tưởng gì về những khoảnh khắc đâu thương đó?
Những gia đình có con em hy sinh trong ngày 14-3-1998 đã biết về trường hợp hy sinh của con em mình chưa? Qua bao nhiêu năm, nỗi đau có thể nguôi ngoai nhưng những người mẹ, người vợ, người chị của các liệt sĩ ấy đang sống thế nào?..
TÔI ĐỀ NGHỊ TẤT CẢ CÁC THÀNH VIÊN CỦA DIỄN ĐÀN HOÀNG SA VÀ NHỮNG AI ĐÃ, ĐANG QUAN TÂM ĐẾN DIỄN ĐÀN NÀY, ĐẾN SỰ KIỆN ĐAU THƯƠNG NÀY HÃY CÙNG BỎ CHÚT THỜI GIAN ĐỂ QUAN TÂM, TÌM HIỂU ĐẾN NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TRỞ VỀ VÀ NHỮNG GIA ĐÌNH LIỆT SĨ HY SINH Ở CÔ LIN-GẠC MA
Trong danh sách 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân đã hy sinh và mất tích mà Báo Nhân dân đã đăng tải, đã liệt kê cụ thể họ tên, quê quán của các anh, các chú. Tôi đề nghị các bạn đọc danh sách này (liệt kê cụ thể ở dưới) và vận dụng điều kiện, hoàn cảnh để tìm đến họ. Trong diễn đàn này, chắc chắn có bạn ở Quảng Bình, các bạn có thể tìm đến mấy huyện trong tỉnh để tìm gía đình các liệt sĩ (hồi đó là tỉnh Bình Trị Thiên nhưng tên xã, huyện bây giờ vẫn không thay đổi) để thăm hỏi, động viên…
Các bạn ở các dịa phương khác cũng có thể làm như vậy. Sau mỗi chuyến đi thăm, tìm hiểu về gia đình các liệt sĩ, các bạn hãy viết về những gì đã ghi nhận, cảm nhận và đưa lên Diễn đàn của chúng ta. Từ những thông tin này, đề nghị Ban Quản trị Diễn đàn Hoàng Sa kêu gọi các thành viên và những người quan tâm, tổ chức việc quyên góp để giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn và chúng ta hoàn toàn có thể tổ chức những chuyến đi đến thăm hỏi, động viên các Mẹ, các Chị.
Việc \”Đền ơn, đáp nghĩa\” là chủ trương của Chính phủ và mọi hành động, việc làm đều được khuyến khích, không ai dám cấm đoán chúng ta. Đối với những người đã nằm xuống vì Trường Sa, việc này càng nên làm để vong linh của các anh khỏi tức tưởi, để các anh được yên nghỉ dưới lòng biển và để mọi người dân nước Việt không thể quên việc các anh đã nằm xuống ra sao, trong hoàn cảnh nào? Để cái chết của các anh không vô nghĩa, không đi vào quên lãng như suốt 21 năm qua, nhiều người đã muốn quên đi, muốn giấu đi…
Tôi xin cung cấp về trường hợp gia đình liệt sĩ Phan Văn Thiềng) quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên, nay là Quảng Bình): Hiện tại mẹ liệt sĩ Thiềng vẫn đang sống một mình trong căn nhà mái lá ven quốc lộ 1A. Trong căn nhà này, thứ đáng giá nhất là tấm bằng… Tổ quốc ghi công mang tên anh Thiềng. Nhà không có bàn ghế, bếp nguội lạnh và mỗi ngày hàng xóm láng giềng, con gái mẹ ở gần đấy mang bát cơm đến cho mẹ ăn qua ngày… Đầu năm 2008, tôi đã qua thăm nhà mẹ và cũng thay mặt cơ quan tặng mẹ 500.000 đồng để mẹ có tiền sắm Tết. Hiện tại, không rõ hoàn cảnh của mẹ ra sao, rất mong bạn nào đó ở Quảng Bình đến thăm, tìm hiểu và thông báo cho anh em trên Diễn đàn. Đường đến nhà mẹ: Từ Hà Tĩnh chạy vào, qua đèo Ngang một đoạn sẽ thấy trụ sở UBND xã Đôn TRạch nằm bên tay trái, từ trụ sở xã đi khoảng 500 mét, sẽ thấy 1 căn nhà mái lá ọp ẹp nằm cạnh ao rau muống. Đó là nhà mẹ liệt sĩ Thiềng. Nếu không tìm được, cứ hỏi là người dân sẽ chỉ cho ngay…
Rất mong các bạn quan tâm đến đề nghị này!
Danh sách 74 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh, mất tích trong ngày 14-3-1988 tại vùng biển Cô Linh – Gạc Ma (đăng trên báo Nhân dân 15-3-1988)
1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.
2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.
3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam)
4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).
6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng.
7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.
8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).
9- Nguyễn Tiến Hùng, quê Quảng Xương, Thanh Hóa.
10- Lê Minh Thoa, quê Bình An, Tây Sơn, Nghĩa Bình (nay là tỉnh Bình Định).
11- Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
12- Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.
13- Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
14- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa.
15- Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).
16- Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình.
17- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.
18- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).
19- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.
20- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
21- Trương Văn Hiền, quê Hương Phong, Hương Khuê, H
à Tĩnh.
22- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
23- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).
24- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
25- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).
26- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
27- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
28- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.
29- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
30- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
31- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.
32- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).
33- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
34- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
35- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
36- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
37- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
38- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
39- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.
40- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
41- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.
42- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.
43- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
44- Mai Văn Tuyến, quê Tây An, Tiền Hải, Thái Bình.
45- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
46- Nguyễn Văn Thông, quê Nhân Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
47- Lê Văn Đông, quê Tây Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
48- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
49- Trần Thiện Phụng, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
50- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
51- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
52- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
53- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.
54- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng)
55- Mai Văn Hải, quê Liêm Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
56- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
57- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
58- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
59- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
60- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
61- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
62- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
63- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
64- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
65- Phạm Văn Nhân, quê Nghĩa Lợi, Nghĩa Hưng, Hà Nam Ninh (Nam Định).
66- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam ĐỊnh).
67- Dương Văn Dũng, quê tổ 53, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
68- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
69- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. BÌnh).
70- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
71- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
72- Lê Văn Xanh, quê tổ 38, Tuyên Sơn, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
73- Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
74- Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).
Các bạn có thể tham gia thảo luận ở diễn đàn Hoàng Sa
Cùng hoangsa.org thi tìm hiểu biên giới hải đảo tại Nhà Văn hóa Sinh viên Tp.HCM
Tháng Tư 18, 2009KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HỘI THI TÌM HIỂU VỀ BIÊN GIỚI, HẢI ĐẢO VÀ TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ANH HÙNG
Thực hiện Kế hoạch liên tịch giữa Thành Đoàn và Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng về việc tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 50 Ngày truyền thống bộ đội biên phòng anh hùng (03/3/1959 – 03/3/2009), 20 năm Ngày biên phòng toàn dân (03/3/1989 – 03/3/2009), Ban Thường vụ Thành Đoàn tổ chức Hội thi tìm hiểu về biên giới, hải đảo và truyền thống về bộ đội biên phòng anh hùng, cụ thể như sau:
I. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:
1. Mục đích:
- Thiết thực triển khai thực hiện chương trình hành động “Tuổi trẻ thành phố vì biên giới, hải đảo” giai đoạn 2009-2012, qua đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức về các vấn đề liên quan đến biên giới, hải đảo, trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên tham gia bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Tuyên truyền sâu rộng trong đoàn viên, thanh niên về truyền thống 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của bộ đội Biên phòng, ý nghĩa của Ngày biên phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Yêu cầu:
- Thiết thực, ý nghĩa, tiết kiệm, đảm bảo tính chính trị.
- Công tác chuẩn bị chu đáo, tuyên truyền rộng rãi thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia.
II. ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – HÌNH THỨC THI:
1. Đối tượng tham gia: Tất cả đoàn viên, thanh niên, người dân đang sống trên địa bàn thành phố.
2. Nội dung: tập trung vào những kiến thức cụ thể sau:
Những kiến thức tổng quát về các vấn đề liên quan đến biên giới, hải đảo, 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của bộ đội Biên phòng, 20 năm ngày biên phòng toàn dân (có đề cương riêng).
3. Hình thức: cuộc thi sẽ diễn ra theo 2 hình thức:
a) Hình thức thi trực tuyến: (trên mạng internet)
- Các thí sinh dự thi viết một bài cảm nhận với nội dung nêu cao vai trò của lực lượng Bộ đội biên phòng trong giai đoạn đấu tranh giải phóng đất nước và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ an ninh biên giới, biển, đảo, niềm tự hào, nhận thức về trách nhiệm của thế hệ trẻ ra sức phấn đấu trong học tập và công tác để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
- Hình thức gửi bài: Bài dự thi tối đa là 5.000 từ, đánh máy trên giấy A4 có ghi rõ tên cá nhân hoặc các thành viên trong nhóm, cơ quan, địa chỉ và điện thoại liên lạc, gửi bài trực tuyến qua email: cuocthibiengioihaidao@yahoo.com.vn hoặc website: http://www.nvhsv.org.vn. BTC sẽ chọn lựa những bài viết hay nhất để trao giải thưởng. Các thí sinh có thể tham khảo thông tin trên Website Nhà văn hóa Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh www.nvhsv.org.vn.
- Hạn chót nhận bài dự thi trực tuyến : 28/3/2009
b) Hình thức thi nhóm:
* Vòng sơ khảo:
- Mỗi quận huyện Đoàn và tương đương, Đoàn cơ sở trực thuộc thành Đoàn cử tối đa 02 đội thi gồm 5 thành viên/đội thi vòng sơ khảo bằng hình thức trắc nghiệm 60 câu hỏi và một bài tự luận (khoảng 500 từ).
- Đăng ký dự thi hạn chót là: Ngày 20/04/2009
- Thời gian thi vòng sơ khảo: Ngày 03/5/2009 (Sáng chủ nhật)
- Ngày thi chung kết và phát giải: Ngày 24/05/2009 (Sáng chủ nhật)
- Địa điểm thi: Các đội thi có mặt vào lúc 08g00 ngày 03/05 (chủ nhật) tại Hội trường Nhà Văn hóa Sinh Viên TP. Hồ Chí Minh (643 Điện Biên Phủ, quận 3) để dự thi.
- Ban Tổ chức sẽ chọn ra 6 đội có kết quả cao nhất để dự thi vòng chung kết vào ngày 24/05/2009.
* Vòng chung kết: tổ chức vào lúc 19g00 ngày 24/5/2009 (thứ bảy) tại Hội trường Nhà Văn Hóa Sinh Viên (643 Điện Biên Phủ, quận 3).
Các đội thi vòng chung kết sẽ tham gia 3 phần thi, nội dung và hình thức thi như sau:
Phần 1: Mang tên “Ai nhanh hơn” (30 điểm): có tất cả 30 câu hỏi trắc nghiệm, các đội lựa chọn đáp án đúng nhất bằng cách giơ bảng. Mỗi câu trả lời đúng các đội sẽ được 5 điểm. Thời gian trả lời một câu hỏi là 20 giây.
Phần 2: Mang tên “Thuyết Trình” (40 điểm): các đội thi sẽ cử 01 hay nhiều thí sinh thuyết trình về chủ đề truyền thống 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của bộ đội Biên phòng, 20 năm ngày biên phòng toàn dân và vai trò của SV – HS trong việc góp phần xây dựng thế trận Biên phòng toàn dân, gắn với thế trận quốc phòng và an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, bảo vệ biên giới, hải đảo.
Phần 3: Mang tên “Năng khiếu” (30 điểm): Các đội thi sẽ biểu diễn 01 tiết mục văn nghệ tự chọn (tốp ca, múa, tam ca, song ca, đơn ca) ca ngợi về người lính bộ đội biên phòng và về biên giới, hải đảo theo danh mục các tác phẩm được phép biểu diễn.
Chi tiết tại: http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=5222
Trường Sa 14.3.1988 – Những người quên mình vì nước
Tháng Ba 14, 2009Hôm nay, vừa tròn 21 năm sự kiện Gạc Ma – Co Lin – Len Đao, 14.3.1988. Trong khi bảo vệ chủ quyền của đất nước, 64 sĩ quan và chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã hy sinh hoặc mất tích, 11 người bị thương.
Nghiêng mình tưởng nhớ những người đã bảo vệ biển đảo của Tổ quốc, bằng máu và cả cuộc sống của họ!
Đây là Danh sách 74 người khi đó bị coi là mất tích, được đăng trên báo Nhân Dân ngày 28/3/1988. Trong số này, có những người được xác định là đã hy sinh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như liệt sĩ, Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146; liệt sĩ, Đại uý thuyền trưởng tàu HQ 604 Vũ Phi Trừ; liệt sĩ, Thiếu uý Trần Văn Phương. Có một số người bị Trung Quốc bắt, sau này đã được thả. Còn 61 người vẫn mất tích và được xem là đã hy sinh.
Tháng 8/2008, ngư dân đã đưa lên được 4 bộ hài cốt liệt sĩ từ xác tàu HQ 604. Việc tìm kiếm các anh vẫn đang được tiếp tục…
Lễ truy điệu các Liệt sỹ đã hi sinh vì Trường Sa năm 1988
Những sự kiện trước, trong và sau ngày 14.3.1988 đã được phản ánh khá nhiều trên báo Nhân Dân. Diễn đàn sẽ dần đăng lại những tư liệu này.
Nguồn blog Thiềm Thừ
Xem thêm Tưởng niệm các Liệt sỹ đã hi sinh vì Trường Sa năm 1988
Trường Sa 14.3.1988 – Những người quên mình vì nước
Tháng Ba 14, 2009Hôm nay, vừa tròn 21 năm sự kiện Gạc Ma – Co Lin – Len Đao, 14.3.1988. Trong khi bảo vệ chủ quyền của đất nước, 64 sĩ quan và chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã hy sinh hoặc mất tích, 11 người bị thương.
Nghiêng mình tưởng nhớ những người đã bảo vệ biển đảo của Tổ quốc, bằng máu và cả cuộc sống của họ!
Đây là Danh sách 74 người khi đó bị coi là mất tích, được đăng trên báo Nhân Dân ngày 28/3/1988. Trong số này, có những người được xác định là đã hy sinh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như liệt sĩ, Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146; liệt sĩ, Đại uý thuyền trưởng tàu HQ 604 Vũ Phi Trừ; liệt sĩ, Thiếu uý Trần Văn Phương. Có một số người bị Trung Quốc bắt, sau này đã được thả. Còn 61 người vẫn mất tích và được xem là đã hy sinh.
Tháng 8/2008, ngư dân đã đưa lên được 4 bộ hài cốt liệt sĩ từ xác tàu HQ 604. Việc tìm kiếm các anh vẫn đang được tiếp tục…
Lễ truy điệu các Liệt sỹ đã hi sinh vì Trường Sa năm 1988
Những sự kiện trước, trong và sau ngày 14.3.1988 đã được phản ánh khá nhiều trên báo Nhân Dân. Diễn đàn sẽ dần đăng lại những tư liệu này.
Nguồn blog Thiềm Thừ
Xem thêm Tưởng niệm các Liệt sỹ đã hi sinh vì Trường Sa năm 1988
Ngày 13/5/2009,hạn chót nộp “hồ sơ thềm lục địa mở rộng” cho CLCS
Tháng Ba 6, 2009Luật quốc tế về biển 1982 (UNCLOS 1982) có qui định một số các điều khoản, cho phép những nước cận biển có thể mở rộng thềm lục địa đến tối đa là 350 hải lý nhưng phải thỏa mãn một số điều kiện, thí dụ những nước muốn khai thác vùng thềm lục địa mở rộng phải chia sẻ tài nguyên khai khác được với một tỉ lệ sẽ được xác định với một cơ quan quốc tế thuộc LHQ. Hồ sơ (về kỹ thuật và pháp lý) thềm lục địa mở rộng của các nước phải nộp cho Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) thuộc Liên Hợp Quốc trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. Vì vậy vấn đề “thềm lục địa mở rộng” là một vấn đề hoàn toàn kỹ thuật và pháp lý, mỗi nước phải làm một hồ sơ riêng và kết quả sẽ do CLCS quyết định.
Hiện nay, các nước bao bọc xung quanh biển Đông, chỉ có Indonesia là hoàn tất hồ sơ và đã nộp cho CLCS trước thời hạn nhiều tháng.
Việc tranh chấp chủ quyền các đảo vì thế làm cho hồ sơ “thềm lục địa mở rộng” của các nước mang tính chiến lược, nhất là đối với VN và TQ. Nếu không có đồng thuận trước, sẽ không nước nào nộp trước, tất cả sẽ chờ cùng nộp vào thời khắc cuối cùng, ngày 13/5/2009. Nước nào nộp hồ sơ trước, hay để lộ nội dung hồ sơ, nước nộp sau có thể lập hồ sơ khác hóa giải hay nắm phần lợi thế hơn.
Công ước luật biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS 1982) quy định các vấn đề về chủ quyền vùng biển (vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa) đối với các quốc gia đã có sẵn bờ biển, hải đảo. Vấn đề chủ quyền đảo phải viện dẫn thêm các điều ước quốc tế khác cũng như áp dụng những điều phù hợp trong UNCLOS. UNCLOS không hề quy định rằng QĐ Hoàng Sa gần Việt Nam hơn thì phải thuộc chủ quyền Việt Nam, cũng như không hề quy định QĐ Trường Sa ở gần Philipin hơn thì phải thuộc chủ quyền của Philippin.
Chứng cứ lịch sử về HS-TS là một lợi thế của Việt Nam so với chứng cớ nguỵ tạo của Trung Quốc, hay quan điểm tính kế cận của Mã, của Phi, nhưng đấu tranh dựa trên công pháp quốc tế là con đường còn rất dài…
Một bản khác của Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 (bản scan) được đăng tại Tủ sách Hoàng Sa – Trường Sa trực tuyến tại diễn đàn Hoàng Sa hoặc có thể tải tại đây
Biển Đông: Những điều hoang đường và sự thật của “đường lưỡi bò”9
Tháng Hai 11, 2009Sau đây là bài viết nhan đề: “Biển Đông: Những điều hoang đường và sự thật của đường lưỡi bò” của tướng Daniel Schaeffer, nguyên Tùy viên quốc phòng Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan, hiện là Tư vấn cao cấp của chuyên mục “Tiêu điểm quốc tế”, tạp chí Diplomatie 36 – tháng 1 và 2/2009.Thành viên tranbong dịch và đăng trên diễn đàn Hoàng Sa
Vén bức rèm che đường lưỡi bò hoang đường.
Vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay là phải biết cách làm cho những đòi hỏi ẩn chứa phía sau đường lưỡi bò phù hợp với việc nước này tham gia Công ước về luật biển với những đường ranh giới của các khu độc quyền và các thềm lục địa.
Các cuộc hội kiến của các tác giả tại Việt Nam và tại Trung Quốc cho thấy Chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ đề cập một cách chính thức đến đường lưỡi bò như một ranh giới bất khả xâm phạm đối với chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Đây là một trong những nhân tố cơ bản đầu tiên cần nhấn mạnh. Đúng là việc duy trì biểu tượng của đường này trên các bản đồ do Bắc Kinh xuất bản tiếp tục gây ra tình trạng mập mờ về thực chất của những yêu sách của Trung Quốc, một tình trạng kéo dài xuất phát từ thực tế là hầu hết người dân Trung Quốc đều cho rằng đây đơn giản là sự khẳng định đối với “việc đã rồi” và vì thế không việc gì phải bàn đi cãi lại.
Đường lưỡi bò xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng năm 1947, trong một tập bản đồ tư nhân (chứ không phải do nhà nước xuất bản) dưới dạng một đường nét liền được vẽ bằng tay. Cần phải có những nhiên cứu cụ thể hơn để xác định được nguồn gốc chính xác của đường này. Trong thực thế, không tìm thấy bất kỳ một tọa độ nào của những điểm khác để có thể xác định vị trí chính xác của đường lưỡi bò.
Sau khi xuất hiện, đường lưỡi bò tiếp tục thay đổi thành một đường gián đoạn 11 nét, rồi 9 nét bắt đầu từ những năm 1950, tức sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời. Ba giai đoạn như vậy hợp thành một nhân tố quan trọng để làm cơ sở xem xét các cuộc tranh luận về sau. Những tấm bản đồ về Biển Đông và về đường lưỡi bò mà chúng ta có thể tìm thấy đều được phát hành sau năm 1950. Trên những bản đồ này có ghi những chứ cái Trung Quốc được đơn giản hóa (chứ không có các chữ cái Trung Quốc truyền thống mà những người dân tộc chủ nghĩa vẫn còn sử dụng) hoặc những chữ cái Latinh được viết theo cách phát âm (dạng viết được nhà nước Trung Hoa nhân dân chấp nhận, khác với những hệ thống chuyển biên mà Trung Hoa dân quốc đã sử dụng trước đó). Trong những điều kiện như vậy, có thể hiểu rằng một đường ranh giới như vậy không phải là sự thể hiện chính thức ý trí áp đặt chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông. Đúng hơn đó là đường xác định phạm vi lãnh hải mà toàn bộ phía trong của nó là đối tượng của các cuộc thảo luận mà Trung Quốc muốn tiến hành để xác định chủ quyền trước hết là của Trung Quốc, sau đó mới là của các quốc gia khác, đối với những vùng đất nổi và đôi khi cả những vùng đất chìm như trường hợp của bãi Macclesfild. Đó như thể là giới hạn mà Trung Quốc đặt ra đối với “khu vực tranh chấp”.
Nếu phân tích kỹ thì có thể thấy được nhiều chi tiết. Thứ nhất là những đường cơ sở mà Trung Quốc xác định xung quanh quần đảo Hoàng Sa. Phải nói rằng Trung Quốc diễn giải một cách quá lạm dụng Phần IV của Công ước về luật biển khi gán cho Hoàng Sa quy chế “Quốc gia quần đảo”. Thực tế, Hoàng Sa không thể có quy chế này vì không thỏa mãn các tiêu chuẩn được quy định trong Điều 46 của Công ước về luật biển, theo đó để có quy chế “Nhà nước quần đảo” thì lãnh thỏ đó phải độc lập, chỉ bao gồm các hòn đảo và hoàn toàn không có mối liên hệ với lục địa. Kể cả khi Hoàng Sa thỏa mãn 2 tiêu chuẩn cuối cùng thì nó cũng không thỏa mãn tiêu chuẩn đầu tiên, tiêu chuẩn về sự độc lập, vì đang là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Về logic tổng thể, cần áp dụng quy chế của các đảo đối với Hoàng Sa, tùy thuộc vào việc tại đây con người có thể sinh sống hay không như quy định trong Phần VIII của Công ước về luật biển.
Ngoài ra, chúng ta thấy rằng các đường cơ sở được áp dụng đối với Hoàng Sa không trùng với đường lưỡi bò và ngược lại. Nếu Trung Quốc không muốn mâu thuẫn với chính mình, họ không nên đặt ra những đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa. Khi câu hỏi về mâu thuẫn này được đặt ra, người ta chỉ có được những câu trả lời mập mờ thay cho những lời giải thích có tính thuyết phục.
Chi tiết thứ hai đó là việc Trung Quốc đưa ra định nghĩa về lãnh hải của họ trong Luật ngày 25/2/1992. Trong luật này, Biển Đông không được nêu như là “biển lãnh thổ”. Chỉ có các quần đảo – một trong những cấu thành của Biển Đông – được nêu một cách dứt khoát là lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc. Như vậy, các khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc cũng cần được xác định trên cơ sở của luật này.
Chi tiết thứ ba nảy sinh từ những lời phát biểu kỳ quặc của vị đại diện của một trong những viện nghiên cứu mà tác giả đã gặp khi vị này cho ràng đường lưỡi bò không phải do thể chế cộng sản tạo ra mà là sự kế thừa của thể chế dân tộc chủ nghĩa trước đây. Ta có thể hiểu: Việc đường lưỡi bò tồn tại như bây giờ không phải là lỗi của chính quyền Bắc Kinh. Nói một cách nghiêm túc hơn: Dù diễn đạt khó hiểu đi chăng nữa thì vị quan chức này cũng cho thấy rằng điều mà Trung Quốc đòi hỏi trước tiên là các bên tranh chấp phải công nhận rằng hiện đang có tranh chấp tổng thể và quan trọng hơn là họ cong nhận rằng hiện đang tồn tại những khu vực tranh chấp và thực sự đang tồn tại sự tranh chấp đối với những vùng nêu trên. Điều đó có nghĩa là:
– Trung Quốc muốn Việt Nam công nhận rằng không có trnah chấp đối với Hoàng Sa – điều mà Hà Nội không chịu. Điều mà Trung Quốc muốn đạt được ở đây là hai nước chấp nhận thực trạng được áp đặt bằng quân sự giữa hai nước trong những năm 1947-1974 và rằng vấn đề Hoàng Sa từ nay trở đi vĩnh viễn là vấn đề đã quyết với phần thắng th
uộc về Trung Quốc. Nếu Việt Nam có những tư liệu đích thực có giá trị pháp lý để chứng minh rằng các vua Annam thực sự đã thực thi chủ quyền của họ trên những hòn đảo này vào thời kỳ tiền thực dân (chủ quyền này sau đó được thực dân Pháp đảm nhiệm) thì lý lẽ của Trung Quốc về chủ quyền đối với những hòn đảo này sẽ yếu hơn nhiều so với những lý lẽ của Việt Nam, kể cả khi Trung Quốc cho rằng chủ quyền của họ được thực thi đối với Biển Đông từ thời triều Song (960 – 1279). Ít nhất đó cũng là điều mà trẻ em Trung Quốc học trong các cuốn sách lịch sử của họ. Vấn đề cung cấp thêm những bằng chứng đáng tin cậy (chứ không phải cứ to mồm kêu loa “đã từ lâu các ngư dân Trung Quốc thường xuyên đến các vùng biển này”) là điểm quan trọng hiện nay và đây đúng ra phải là nhân tố cho phép xác định chủ quyền thực tế đối với Hoàng Sa.
– Trung Quốc lẩn tránh việc thảo luận thực tại của vấn đề chủ quyền đối với bãi Macclesfield, khu vực đang là “vấn đề đặc biệt” như đánh giá của một trong các chuyên gia của Trung Quốc về luật biển. Thực tế, dù không đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào của Công ước về luật biển về mặt thực tại lãnh thổ trong trường hợp như thế này vì Công ước chỉ chế định những bãi nổi hay những mỏm ngầm nhìn thấy được (trong điều 6 của Công ước có định nghĩa các bãi đá ngầm mặc dù định nghĩa này còn chưa rõ ràng), việc khẳng định chủ quyền đối với khu vực này là điều khó đối với mọi quốc gia.
– Trung Quốc có thể sẽ tỏ ra sẵn sàng thảo luận về Trường Sa để phục vụ chiến lược lừa dối để thế giới tưởng rằng Trung Quốc cũng có khả năng nhân nhượng hoặc vì Trung Quốc không có đủ các nhân tố khẳng định chủ quyền chắc chắn đối với quần đảo này. Các diễn giải như vậy càng được củng cố hơn khi Viện Nghiên cứu về Biển Đông đóng tại Haikou, rất có uy tín đối với Chính quyền Trung ương Trung Quốc, có một bộ phận chuyên nghiên cứu về TS, trong khi về các quần đảo khác thì không có bộ phận nghiên cứu chuyên trách.
Điều hoang đường khó dẹp bỏ
Tình hình nêu trên cho thấy rằng vẫn chưa thể loại bỏ đường lưỡi bò khỏi các bản đồ Trung Quốc ngày nay. Thực ra, các chuyên gia về luật biển của Trung Quốc vẫn chưa thành công trong việc thuyết phục người dân Trung Quốc, đặc biệt là dư luận xã hội, về sự cần thiết phải làm cho những đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc phù hợp với các điều khoản của Luật biển để những đòi hòi này trở nên tin cậy. Đại diện cho khuynh hướng “tôn trọng pháp lý” này (hãy tạm gọi như thế) là giáo sư Lihai, người được bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án quốc tế về luật biển tại Hambourg tháng 8/1996, nhưng đã chết vào tháng 10/2000 khi chưa kết thúc nhiệm kỳ. Trường phái này đã được một số quan chức Trung Quốc, cả quân sự và dân sự, ủng hộ, nhưng tất cả các cơ quan nghiên cứu thì không đồng tình. Tuy nhiên, cần thấy rằng trước đó giáo sư Zhao trong một thời gian dài cũng đã cố sức bảo vệ cho giả thiết rằng khu vực được giới hạn bởi đường lưỡi bò hoàn toàn thuộc về Trung Quốc.
Ngày nay, khuynh hướng “tôn trọng pháp lý” còn đang phải đối mặt với hai trường phái truyền thống. Trường phái thứ nhất khẳng định rằng Biển Đông là biển lãnh thổ Trung Quốc, với lý lẽ là đường lưỡi bò đã có trước Công ước về luật biển, là di sản của lịch sử. Trường phái thứ hai cho rằng thể chế của Biển Đông là thể chế của một biển lịch sử như nêu trong các sách giáo khoa lịch sử, mặc dù điều này không được kiểm chứng.
Kết luận
Đường lưỡi bò có thể còn tồn tại một thời gian dài nữa mặc dù nó đang trở nên mờ nhạt trong tâm trí của một số người Trung Quốc muốn đất nước mình là một thành viên tin cậy của Công ước về luật biển. Những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông thật khó có thể biện minh. Việc từ bỏ hoàn toàn đường lưỡi bò sẽ khắc phục hoàn toàn được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, làm cho các cuộc đàm phán giữa các nước trong khu vực trở nên khách quan hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc cùng khai thác tài nguyên tại một số khu vực ít ỏi không tranh chấp. Cùng một số diễn biến gần đây trong khu vực, điều này có thể sẽ là một triển vọng thực tế đáng khích lệ. Việc Trung Quốc và Nhật Bản ký kết thỏa thuận cùng khai thác mỏ khí Shirabaka (theo cách gọi của Nhật Bản) cho phép hy vọng về một sự tiến triển trong tư duy của Trung Quốc liên quan đến những đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh đối với Biển Đông, thậm chí có thể một ngày nào đó Trung Quốc sẽ quyết định bỏ hẳn đường lưỡi bò trong các bản đồ của họ.
Trung Tâm Dữ Liệu Hoàng Sa
Không đánh thì không giải quyết được vấn đề Biển Đông
Tháng Hai 7, 2009Theo tin tức đài truyền hình GMAN của Philippine chiều ngày 28 tháng 1, thượng viện Philipine đã thông qua luật số 2699 tên là “Luật về phân định đường cơ sở lãnh hải của Phi lip pin”. Luật này đã đem hai đảo của Trung quốc là đảo Huangyan và đảo Zhongye thuộc về đảo của Phi lip pin.
Cho dù giải thích như thế nào đi nữa thì điều luật này đều là sự xâm phạm chủ quyền của Trung quốc. Vào lúc các quốc gia trên thế giới đang hợp tác để đối phó với khủng hoảng kinh tế, quan hệ thương mại Trung quốc – Phi lip pin những năm gần đây thuận lợi thì bên phía Phi lip pin tạo ra tranh chấp và căng thẳng không phải là một lựa chọn khôn ngoan.
Trung quốc và Phi lip pin tồn tại những sự khác biệt nghiêm trọng đối với vấn đề chủ quyền các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (nguyên văn: Nam Sa). Thực tế này về mặt lịch sử hai bên Trung – Phi đã đám phán nhiều lần và đồng ý thông qua đàm phán hữu nghị tìm ra những biện pháp giải quyết những khác biệt giữa hai bên. Giữa hai nước có cơ chế hợp tác tìm kiếm thăm dò tại khu vực Biển Đông (nguyên văn: Nam hải) bao gồm ba nhóm công việc hợp tác nghề cá, bảo vệ môi trường biển và và xây dựng lòng tin.
Tháng 4 năm 2001 hai bên tiến hành hội nghị lần thứ 3 nhóm công tác về xây dựng lòng tin ở Malina. Hai bên đồng thuận cho rằng không để cho sự khác biệt ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Trung quốc – Phi lip pin, đồng ý không sử dụng những hành động làm mở rộng hóa và phức tạp hóa tình hình và tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực nghề cá, quân sự, nghiên cứu khoa học v.v…
Tháng 10 năm 2004 cục hàng hải Trung quốc và đội cảnh vệ bờ biển Phi lip pin lần đầu tiên diễn tập tìm kiếm bồn cát tại Malina. Nhờ sự nỗ lực của hai bên, ngày 1 tháng 9 năm 2004 tổng công ty dầu khí hải dương Trung quốc và công ty dầu khí quốc gia Phi lip pin đã ký “ Hiệp định triển khai hợp tác địa chấn khu vực biển Đông (nv: Biển nam Trung quốc)”
Tháng 3 năm 2005, Việt nam đồng ý gia nhập hợp tác Trung quốc – Phi lip pin, Công ty dầu khí của ba nước Trung – Việt – Phi ký kết “Hiệp định hợp tác địa chấn ba bên ở Biển Đông”
Như hiện nay thì Phi lip pin đã vứt bỏ Hiệp định, trực tiếp chiếm đóng hai đảo của Trung quốc.
Phi lip pin dựa vào cái gì?
Phi lip pin từng là căn cứ của Mỹ, hai nước duy trì quan hệ đồng minh thân thiết trong thời gian dài. Hai nước ký kết điều khoản cùng bảo vệ và Hiệp định tương trợ quân sự. Năm 1991 Thượng nghị viện Phi lip pin bãi bỏ Hiệp định căn cứ quân sự Mỹ – Phi lip pin, kết thúc sự đồn trú quân Mỹ ở Phi lip pin kéo dài đến 93 năm. Năm 1998 hai nước ký kết “Hiệp định thăm viếng quân sự”. Hiệp định này cho phép quân Mỹ quay trở lại Phi lip pin, hai nước khôi phục tập trận liên hợp quy mô lớn.
Sự kiện 11.9.2001 đã khiến cho hợp tác Mỹ – Phi lip pin tăng cường mạnh mẽ. Chính phủ Phi lip pin hoàn toàn ủng hộ các hoạt động chống khủng bố và chiến tranh tại Apghanistan và Iraq.
Suy nghĩ về quan hệ đồng minh và trạng thái nhận thức chung như thế nên khẩu khí của Phi lip pin càng ngày càng mạnh, đặc biệt là lúc đối mặt với Trung quốc. Thử nghĩ xem một nước liền với Trung quốc là Việt nam mà còn không sợ chiếm cướp các đảo trên Biển Đông thì một nước không có lãnh thổ tiếp giáp lại còn cách xa 1000km như Phi lip pin thì có gì mà sợ.
Bất chấp chính phủ Trung quốc nhẫn nại chứng minh chủ quyền về mặt lịch sử ở Biển Đông cũng như bất chấp Bộ ngoại giao Trung quốc đã bao nhiêu lần đưa ra phản đối nghiêm túc càng bất chấp tình cảm của nhân dân Trung quốc, Phi lip pin đã coi trọng việc hành động trước thông qua luật của riêng mình cưỡng chiếm “hợp pháp” vùng lãnh thổ vốn thuộc quản lý của Trung quốc.
Có thể kiên nhẫn được không? Ai mà kiên nhẫn!
Cùng với bất đồng về vấn đề Đài Loan, bán đảo Triều Tiên thì ở Biển Đông Mỹ, Nhật, EU chưa có dính líu trực tiếp. Họ đều không muốn bày tỏ lập trường mà làm gia tăng mâu thuẫn. Cho đến hôm nay những quốc gia này đặc biệt là Mỹ đều không bày tỏ sự ủng hộ đối với bất cứ bên nào trong cuộc tranh chấp. Mặc dù Phi lip pin một thời gian dài trở lại đây cố gắng giành lại được sự ủng hộ của Mỹ nhưng Mỹ vẫn luôn dè dặt.
Từ khi cải cách mở cửa tới nay, Trung quốc luôn kiềm chế mạnh mẽ tình cảm của mình, quân đội càng giữ gìn sự kiềm chế xung quanh Biển Đông. Thật không may là dưới ảnh hưởng của thái độ này, các nước ven Biển Đông không những không hiểu được sự ý định tốt của chúng ta ngược lại đối với một số vấn đề càng lấn tới, hung hăng đe dọa từ việc ù ù cạc cạc trở thành công khai cưỡng chiếm như hiện nay. Không nghi ngờ gì nữa, chúng đang cho rằng Trung quốc không dám đánh hoặc đã trở thành “con hổ giấy”.
Hổ giấy sẽ không ra oai nữa hay sao? Chúng thực coi Trung quốc là con mèo bị bệnh rồi sao?
Để phòng tránh những phiền phức không đáng có, Trung quốc hoàn toàn có thể dùng phương pháp hay của trị bệnh đau đầu ra giải quyết vấn đề Biển Đông.
Đầu tiên là Việt nam. Không thể phủ nhận trong các nước ven Biển Đông thì Việt nam là nước có thực lực tương đối mạnh, cưỡng chiếm các đảo ở Biển Đông (nv: Nam Hải) của chúng ta cũng là nước nhiều nhất. Đánh rắn đánh bảy tấc, bắt trộm phải bắt tướng. Cái đau khổ của Việt nam là cách thiên đường rất xa, cách Trung quốc rất xa. Thực lực của hải quân không đủ nhưng có thể ngang ngửa ở Vịnh Bắc Bộ. Lục quân mạnh. Tính sớm đến mài dao đi. Vấn đề Biển Đông hoàn toàn có thể khai đao từ tr
ên đất liền. Trong tuần đầu tiên đưa ra cảnh cáo. Giả sử đánh không được thì cũng có cớ Việt nam bài Trung quốc nên tự vệ.
Cuộc chiến Trung – Việt năm nay không biết sẽ như thế nào. Quân đội Trung quốc chưa từng tấn công đạn đạo, thậm chí tấn công từ trên không cũng chưa có dẫn đến lúc khai chiến lực lượng bộ đội sẽ thương vong. Như hiện nay Trung quốc đã 20 năm chưa đánh trận. Điều này đối với một nước lớn không phải là một điều tốt. Quan sát môi trường xung quanh Trung quốc , tham khảo thực lực quân đội Trung quốc đánh cuộc chiến cục bộ quy mô nhỏ là được.
Dùng thực lực đánh Việt nam giết gà cho khỉ xem cho các nước khác đặc biệt là Phi lip pin.
Muốn một mũi tên bắn được hai đích? Không đánh thì không giải quyết được vấn đề gì!
Có chiến tranh thì sẽ có hòa bình. Dạy Việt nam mới giải quyết được vấn đề Biển Đông.
![]() |

(Nguồn: http://bbs.news.sina.com.cn/tablefor…8434&tbid=5293 )
![]() |

|
Đây là một số bình luận của bài viết của các thành viên trong đó có một thành viên viết rất tuổi teen là mang nồi đi luyện sắt
Vẫn cảm thấy lạ. Việt nam vẫn hơi bình tĩnh. Phi lip pin thì xuất đầu lộ diện rồi. Đằng sau chắc hẳn là có sự xúc giục của Phương Tây. Vì chuyện này đánh Việt nam? Không khéo bị Phương Tây đánh cho chạy? Việt nam mà là bảy tấc? Chả nhìn thấy. Tôi thấy chỉ có thể là ai xuất đầu lộ diện trước thì nắm lấy khai đao. ————— Trong đó nhất định có kì lạ nhưng Trung quốc nhất định phải đánh. Tôi giơ hai tay ủng hộ. Quyên góp nồi của nhà đi luyện sắt. ————– Phi lip pin dựa vào cái gì à? Cái dựa đó là “ Hiệp định hợp tác địa chấn ba bên”. Đây là hiệp định bán nước. Đã là biển của Trung quốc nhất là biển có tranh chấp sao lại có ba bên liên hợp? Đó là bạn mời người khác đến nhà. Chủ quyền là không thể thương lượng. ——————– Không đánh Việt nam và Phi lip pin thì không giải quyết được vấn đề gì. Chỉ có đánh mới có thể thu hồi lãnh thổ và lãnh hải đã mất. —————— Hiện tại không phải là lúc đánh Việt nam. Nên đẩy nhanh chế tạo tàu sân bay (hàng không mẫu hạm) và thuyền chiến lớn. —————– Tốt nhất là cả cần đánh nhau, đánh nhau sẽ có người chết. Nếu chúng ta có thể làm chúng thương vong thì băm cho chúng nó chết đi. Bài viết của thành viên Hoangsa-man trên diễn đàn Hoangsa.Org |
Phản ứng trong khu vực với dự luật HB 3216 của Philipines có liên quan tới quần đảo Trường Sa
Tháng Hai 6, 2009Ngày 2/2/2009, Hạ viện Philipines đã thông qua dự luật HB 3216 về đường cơ sở mới của Philipines trong đó đưa một số đảo nhỏ và rặng san hô thuộc quần đảo Trường Sa (Spratlys) và bãi cạn Scarborough vào hệ thống đường cơ sở của nước này.
Trước đó, ngày 27/1/2009, Thượng viện Philipines cũng đã thông qua dự luật SB 2699 không bao gồm các đảo này trong đường cơ sở và các đảo này được quản lý theo “quy chế các đảo” của điều 121, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.
Phản ứng trước việc này, chiều 5/2/2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng.
“Chúng tôi cho rằng trong khi tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho các tranh chấp đối với hai quần đảo này, các bên liên quan cần tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực“.
Hiện các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough mà Hạ viện Philippines đưa vào hệ thống đường cơ sở mới của nước này đang được quản lý theo “quy chế các đảo” của điều 121, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.
Sau đó, đến lượt Đài Loan ra tuyên bố nhắc lại rằng họ có hoàn toàn ‘chủ quyền ở quần đảo Trường Sa’ tại Biển Đông.
Theo Taiwan News hôm 04/02/2009, Bộ Ngoại giao Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), ra tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của họ đối với các đảo và rặng san hô tại Biển Nam Trung Hoa.
Hiện trên thực tế Đài Loan đang làm chủ các đảo họ gọi là Đông Sa và Thái Bình.
Đặc biệt hơn, ngoài việc tái khẳng định chủ quyền, Đài Loan mời Philippines đàm phán về phân định lãnh thổ và lãnh hải tại toàn vùng.
Báo chí trích Thông tấn xã CNA của Đài Loan nói Đài Bắc muốn đàm phán về tranh chấp ‘căn cứ vào các nguyên tắc và hiến chương Liên Hiệp Quốc’.
Trung Quốc, Philippines, và những nước tuyên bố chủ quyền, hoặc toàn bộ, hoặc một phần, của 180 đảo lớn nhỏ và bãi đá, rặng san hộ ở Trường Sa, chưa đưa ra phản ứng.
Malaysia và Brunei nói họ cũng có chủ quyền đối với một phần của quần đảo Trường Sa,.
Theo báo chí Philippines hôm 03/02/2009, Hạ viện nước nay đã thông qua luật xác nhận chủ quyền ở Trường Sa với số phiếu áp đảo 171-3.
Luật Hạ viện House Bill (HB) 3216 sáp nhập nhóm đảo họ gọi là Kalayaan trong quần đảo Trường Sa và cả Scarborough Shoal vào lãnh thổ biển của Philippines.
Văn bản của Hạ viện có sự khác biệt về một số định nghĩa so với bản của Thượng viện.
Nhưng Thượng nghị sĩ Miriam Defensor-Santiago nói Philippines hành động phù hợp với các tuyên bố trước đó về lãnh thổ, lãnh hải và việc duy trì tình trạng hiện hữu, trừ phi có thay đổi về các đảo này bằng biện pháp hòa bình.
Giới bình luận tin rằng Philippines đang thúc đẩy tìm kiếm, khai thác dầu khí trong vùng với sự tham gia của công ty như Philippine National Oil Co.
Nhưng báo The Nation cũng nói nghị viện Philippines chạy đua với thời gian trước hạn định đưa ra quốc tế định nghĩa mới về thềm lục địa mở rộng của nước này theo Luật Biển quốc tế.
Theo Manila Standard Today, hạn chót này là ngày 13/05/2009 và tờ báo cũng nhắc lại rằng Bắc Kinh đã có công hàm phản đối dự luật HB 3216 ngay từ khi nó được đưa ra thảo luận tháng 12/2008.
HoangSa.Org tổng hợp tin tức từ BBCVietnamese và Dân Trí
